Hoa Và Ý Nghĩa Các Loài Hoa

/hoadep

Hoa Và Ý Nghĩa Các Loài Hoa

/hoadep

Introduction

Chia sẽ vẻ đẹp và những ý nghĩa thầm kín của các loài hoa trong thế giới tinh thần đầy màu sắc của con người, nhẹ nhàng hay sâu sắ...

more

Chia sẽ vẻ đẹp và những ý nghĩa thầm kín của các loài hoa trong thế giới tinh thần đầy màu sắc của con người, nhẹ nhàng hay sâu sắc, sự nhớ thương hay hờn dỗi, sự bao dung, vị tha...

Photos

Video

Cánh Tiên
Tên khoa học: Rotheca myricoides ... more
Cánh Tiên
Tên khoa học: Rotheca myricoides
Bộ Hoa môi: Lamiales
Họ Hoa môi: Lamiaceae
Chi: Rotheca
Rotheca myricoides được (Hochst.) Steane & Mabb. miêu tả khoa học đầu tiên năm 1998 và có nguồn gốc từ Châu Phi. 
Vào năm 1814 được gọi là Clerodendrum myricoides.
Rotheca myricoides là cây bụi thường xanh phát triển nhanh chóng cao từ 12-20cm. 
Cây có lá màu xanh tươi sáng, hoa sặc sỡ, có năm cánh, thường nở từ tháng 6 - 9. Hoa có hình dạng khá đặc biệt. Trông giống như một con bướm đang bay, do đó tên phổ biến là bụi bướm xanh. Màu hoa biến đổi từ màu xanh lam đến trắng. Mỗi bông hoa có bốn cánh hoa màu xanh nhạt (giống như cánh bướm), cánh hoa màu xanh đậm thứ năm (giống như đầu bướm, ngực và bụng), và nhị hoa, cong, viền ngoài, màu tím (giống như râu bướm). Quả thịt đen sau mùa xuân nở hoa. 
Cây khá dễ trồng, không có bất kì vấn đề côn trùng hay sâu bệnh nghiêm trọng nào chỉ chú ý rệp vừng, ruồi trắng, rệp sáp, vảy và bọ nhện.
DU DÊ
Tên khoa học: Melodorum fruticosum ... more
DU DÊ
Tên khoa học: Melodorum fruticosum
Bộ Mộc lan: Magnoliales
Họ Na: Annonaceae
Chi: Melodorum
Melodorum fruticosum được (Lour.) Merr. mô tả khoa học đầu tiên và là loài bản địa của Đông Nam Á . Đây là một trong hai loài được coi là quốc hoa của Campuchia và cũng là loài hoa tỉnh của tỉnh Sisaket, Thái Lan. 
Cây nhỏ cao từ 8 - 12m. Cho hoa màu từ kem tới vàng với một lá xen kẽ, tỏa hương thơm dễ chịu, đặc biệt là vào buổi tối. 
Cây rất phổ biến ở Campuchia, cây thường được trồng làm cây trang trí trong các công viên công cộng. Phụ nữ Khmer đã được so sánh với hoa Rumdul trong văn học và văn hóa dân gian Campuchia cổ đại .
Ở Thái Lan, một loại bánh quy truyền thống, còn được gọi là (lamduan) được làm theo hình dạng của bông hoa.
Cây cũng có công dụng y tế như một loại thuốc bổ, thuốc kích thích tim và hematinic nhẹ .
NGỌC LAN TRẮNG
Tên khoa học: Magnolia × alba ... more
NGỌC LAN TRẮNG
Tên khoa học: Magnolia × alba
Bộ Mộc lan: Magnoliales
Họ Mộc lan: Magnoliaceae
Chi Mộc lan: Magnolia
Loài này trước đây được xếp vào chi Ngọc lan hay chi Giổi với tên Michelia alba.
Đây là một loài lai giữa Magnolia champaca với Magnolia montana thường ít thấy trong thiên nhiên hoang dã mà được nhân giống để làm cảnh. 
Magnolia × alba là cây đại mộc, khi trưởng thành cao đến 15m. Phiến lá hình bầu dục, thon, dài 15–25 cm. Hoa màu trắng ở đầu cành ngắn, rất thơm, có từ 8-12 cánh đài. Ít khi có trái. 
Magnolia × alba là loài được nhân giống rộng rãi để làm cảnh ở châu Á, đặc biệt ở các vùng nhiêt đới và cận nhiệt đới ở Đông Nam Á và Trung Quốc vì hoa có mùi thơm ngát.
Qua lâu
Tên khoa học: Trichosanthes kirilowii ... more
Qua lâu
Tên khoa học: Trichosanthes kirilowii
Họ Bầu bí: Cucurbitaceae
Chi Dưa núi: Trichosanthes
Tên gọi khác: Bạc Bát, Dưa Trời. 
Trichosanthes kirilowii được Maxim. miêu tả khoa học đầu tiên năm 1859.
Trong y học chúng được gọi là Thiên Hoa Phấn. Loài này có nguồn gốc từ Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam. 
Ở nước ta, cây mọc trên đất rừng bên khe hay mé đường vùng núi Cao Bằng và cùng mọc trên đất cát hoang ở Ninh Thuận, Bình Thuận. Cũng được trồng bằng hạt vào mùa xuân. 
Thường những cây lấy hạt thì củ nhỏ cho nên muốn lấy củ mập thì phải ngắt bỏ hoa, không cho kết quả để tập trung chất dinh dưỡng ở rễ củ cho củ to và nhiều bột.
Cây thảo leo sống nhiều năm, thân có rãnh, tua cuốn có 2-3 nhánh.
Lá mọc so le, phiến dài 5-14cm, dày, dai, mặt trên nhám nhám.
Cây có hoa màu trắng, chùm hoa đực dài 15cm, lá bắc to có răng hoa rộng 7cm, cánh hoa cao 2,5cm, Hoa cái mọc đơn độc, bầu có cuống dài 3cm. 
Quả mọng tròn, to 9-10cm, màu vàng cam, hạt tròn dẹp, dài 11-16mm, rộng 7-12mm, trong có lớp vỏ lụa màu xanh.
Ra hoa vào tháng 6-8, có quả tháng 9-10.
Nho San Hô
Tên khoa học: Kennedia coccinea  ... more
Nho San Hô
Tên khoa học: Kennedia coccinea 
Bộ Đậu: Fabales
Họ Đậu: Fabaceae
Chi: Kennedia
 
Kennedia coccinea là loài đặc hữu ở phía tây nam Tây Úc. 
Cây bụi hoặc cây leo mọc thấp, có cành lá màu rỉ sét với những tờ rơi tròn dài khoảng 1,5 cm. Hoa như hoa hoa đậu màu đỏ hoặc đỏ tươi, cũng có khi cam đỏ, nở theo cụm từ tháng 8 đến tháng 11 trong phạm vi địa phương. 
Loài này đã được mô tả chính thức vào năm 1804 bởi nhà thực vật học Pháp Étienne Pierre Ventenat ở Jardin de la Malmaison . Hai giống được mô tả trong Tạp chí Thực vật học của Paxton năm 1835, cụ thể là var. elegans và var. coccinea . Ba giống khác được chuyển từ chi Zichya vào năm 1923 bởi nhà thực vật học người Czech Karel Domin , cụ thể là var. molly , var. sericea và var. villosa.
Hiện tại, ba phân loài được ghi nhận: 
+ K. coccinea (Curtis) Vent. subsp. coccinea
+ K.coccinea subsp. calcaria Lally
+ K.coccinea subsp. esotera Lally
Loài này trong tự nhiên thích nghi với đất cát hoặc nhẹ hơn và thích một số bóng râm. Nó có khả năng chịu hạn hán và có khả năng chịu sương giá. Cây có thể được nhân giống bằng hạt giống hoặc cành giâm hom trưởng thành.
CÚC CHÂU PHI
Tên khoa học: Osteospermum fruticosum ... more
CÚC CHÂU PHI
Tên khoa học: Osteospermum fruticosum
Bộ Cúc bộ Hướng dương: Asterales
Họ Cúc: Asteraceae
Chi: Osteospermum
Osteospermum fruticosum được (L.) Norl. mô tả khoa học đầu tiên năm 1943 và có nguồn gốc từ Nam Phi.
Là loài cây thân thảo, nửa mọng nước cao từ 15 - 30cm và có thể lan rộng từ 1,2 - 1,8m cùng với những chiếc lá dài, màu xanh lục, thịt. Cây tạo ra những bông hoa lớn, sặc sỡ, giống như hoa cúc với màu trắng, tím đậm và hoa oải hương, tùy thuộc vào giống. Những bông hoa mở ra vào ban ngày, đóng lại vào ban đêm và vào những ngày u ám. 
Cây nên trồng trong ánh mặt trời đầy đủ để một phần bóng râm. Cung cấp cho mặt đất lượng nước vừa phải nhưng không tưới quá nhiều nước. Cây thích nghi với bất kỳ loại đất nào nhưng thích những nơi thoát nước tốt, chịu được sương giá đến hai mươi độ F và chịu được ở những vùng ven biển mặn.